Ứng dụng một vài chỉ báo trong phân tích và đầu tư chứng khoán
kĩ thuật và chỉ báo kĩ thuật.
1.1.
Các
khái niệm – quan điểm về phân tích kĩ thuật
Một số định nghĩa đã được
đưa ra về Phân tích kỹ thuật
a.
Quan
điểm của Barbara Apostolous
Phân
tích kỹ thuật là “quá trình dự báo biến động giá chứng khoán trong tương lai dựa
trên cơ sở phân tích những biến động trong quá khứ của giá và các áp lực cung cầu
có ảnh hưởng đến giá”.
Tuy
nhiên định nghĩa này làm cho Phân tích kỹ thuật dường như trở lên gần tương
đương với phân tích cơ bản - là quá trình ước lượng giá trị chứng khoán hay
hàng hóa bằng cách phân tích các điều kiện kinh tế tài chính cơ bản mỗi công
ty, mỗi ngành,…"
b.
Quan
điểm của Clifford Pistolese
“Phân
tích kỹ thuật là việc sử dụng biểu đồ giá và khối lượng giao dịch làm cơ sở cho
các quyết định đầu tư. Cơ sở căn bản cho hướng tiếp cận này là ở chỗ các thông
tin về giá và khối lượng trên biểu đồ phản ánh tất cả những gì diễn ra về việc
mua hay bán một loại cổ phiếu. Vì biểu đồ cổ phiếu tóm tắt và phản ánh kết quả
thực của các giao dịch đã thực hiện nên Phân tích kỹ thuật là cơ sở duy nhất
cho việc ra các quyết định đầu tư”.
Định nghĩa của nhóm về
phân tích kĩ thuật:
Phân tích kĩ thuật là quá trình nghiên
cứu, phân tích khối lượng cung - cầu và giá cả của chứng khoán, hàng hóa hoặc
chỉ số thị trường, với công cụ là biểu đồ nhằm đưa ra những dự báo về xu hướng
biến động tiếp theo của giá cổ phiếu, thông qua đó đưa ra quyết định đầu tư.
1.2.
Các giả định nền tảng của phân tích
kĩ thuật
Có 3 giả đinh làm cơ sở
cho việc tiếp cận phân tích kĩ thuật:
-
Lịch sử sẽ tự lặp lại.
-
Biến động thị trường phản ánh tất cả.
-
Giá vận động theo xu thế.
a.
Lịch
sử sẽ tự lặp lại
“Thị
trường chứng khoán không bao giờ thay đổi vì bản chất con người không bao giờ
thay đổi, luôn luôn tham lam và sợ hãi” _ Js. Livemore
Giá
chứng khoán luôn chịu tác động của tâm lý nhà đầu tư, mà tâm lý nhà đầu tư sẽ lặp
lại qua các thời kì, do đó giá chứng khoán sẽ lặp lại theo mô hình giống mô
hình đã xảy ra trong quá khứ.
Phân
tích kĩ thuật, phân tích cơ bản và tâm lý nhà đầu tư luôn tương tác và tác động
lên nhau.
b.
Biến
động thị trường phản ánh tất cả:
Đây
có thể coi là nền tảng của Phân tích kỹ thuật. Mọi lý thuyết, phân tích khác muốn
được chấp nhận thì trước tiên phải hiểu và chấp nhận giả định này. Các nhà Phân
tích kỹ thuật cho rằng bất cứ yếu tố nào có khả năng ảnh hưởng đến giá như tâm
lý, chính trị hay các yếu tố tài chính của doanh nghiệp, tổ chức. . . đều được
phản ánh rõ trong giá thị trường. Do đó có người cho rằng việc nghiên cứu biến
động của giá là tất cả những gì ta cần và thực sự không thể phản đối lại ý kiến
này.
Trên
cơ sở nhận thức chung về việc giá phản ánh những biến động trong cung, cầu. Các
nhà Phân tích kỹ thuật chỉ ra rằng khi giá tăng dù vì bất kì lý do gì thì cầu
phải vượt cung và thị trường tăng giá. Chúng ta cũng đều biết và đồng ý rằng động
lực chính của cung và cầu là những yếu tố kinh tế căn bản, chúng làm hình thành
lên Bull Market hay Bear Market, còn đồ thị thì không tự nó làm cho thị trường
dịch chuyển lên hay xuống. Đồ thị chỉ có thể phản ánh tình hình thị trường mà
thôi.
c. Giá vận động theo xu thế:
Mục
đích của việc xác lập đồ thị mô tả những biến động giá trên thị trường là nhằm
xác định được sớm những xu thế giá, từ đó sẽ tham gia giao dịch trên cơ sở những
xu thế này. Trên thực tế những kĩ thuật ở đây đều mang tính lặp lại những xu thế
giá có từ trước tức là mục đích của Phân tích kỹ thuật là nhằm xác định sự lặp lại
của những dạng biến động của giá đã xuất hiện trong quá khứ để có thể tận dụng
kinh nghiệm và đưa ra những quyết định phù hợp.
Từ
giả định này chúng ta còn có một hệ quả là “một xu thế giá đang vận động sẽ tiếp
tục theo xu thế của nó và ít khi có đảo chiều”. Hệ quả này rút ra từ định luật
1 về sự vận động của Newton, do đó nó cách phát biểu khác như sau: "một xu
thế đang vận động sẽ tiếp tục theo xu thế của nó cho đến khi nó đảo chiều”.
Nhìn chung tất cả những nghiên cứu nhằm tiếp cận theo các xu thế đều nhằm để đi
theo những xu thế giá hiện tại cho đến khi có dấu hiệu đảo chiều.
II.
Các
nhóm chỉ báo trong phân tích kĩ thuật
2.1.
Nhóm
chỉ báo xác nhận xu hướng
Xu
hướng là khái niệm quan trọng nhất trong phân tích kỹ thuật. Một xu hướng cho
thấy hướng chung của sự vận động thị trường. Việc xác định xu hướng rất quan trọng
và mang tính quyết định trong đầu tư.
Các
loại xu hướng chính:
o
Đi
lên - đây gọi là một cuộc chạy đua ; một thị trường có xu hướng đi lên.
o
Đi
xuống - đây gọi là một xu hướng giá xuống ; thị trường có xu hướng đi xuống.
o
Đi
theo hướng ngang/Nằm ngang - đây gọi là "thị trường phẳng" hoặc
"không có xu hướng" ; thị trường này không đi theo hướng nào.
Nhóm
chỉ số xác nhận xu hướng cho biết xu hướng của giá cổ phiếu, đi lên hay đi xuống
và không bị giới hạn bởi khoảng giao động nào.
Một số chỉ số xác nhận
xu hướng có thể kể đến như:
2.2.
Nhóm
chỉ báo biến động giá.
Nhóm chỉ báo này dịch
chuyển lên xuống trong một biên độ nhất định dựa trên sự biến động của giá cổ
phiếu. Do các chỉ báo này không dịch chuyển cùng hướng với giá chứng khoán nên
chúng thường được trình bày phía dưới biếu đồ giá.
2.3.
Nhóm
chỉ hỗ trợ - kháng cự
Giá
chứng khoán thường xuyên biến động phản ánh sự thay đổi liên tục của cung cầu
chứng khoán. Hỗ trợ và kháng cự là những đường minh họa sự giằng co giữa người
mua (bull) và người bán (bear).
·
Các đường hỗ trợ báo hiệu giá mà phần lớn
nhà đầu tư tin rằng sẽ lên cao hơn. Khi giá giảm đến đường hỗ trợ và giá rẻ
hơn, người mua sẽ muốn mua hơn và người bán ít muốn bán hơn.
·
Các đường kháng cự báo hiệu giá mà phần
lớn nhà đầu tư tin rằng sẽ xuống thấp hơn. Khi giá di chuyển đến đường đối
kháng và giá cao hơn, người bán sẽ muốn mua hơn và người mua ít muốn bán hơn.
Với
điều kiện là giá của chứng khoán di chuyển giữa đường hỗ trợ và đối kháng, xu
hướng có thể sẽ tiếp tục. Một sự đột phá ra khỏi đường hỗ trợ hoặc đối kháng có
thể là dấu hiệu của:
·
Một xu hướng tăng tốc.
·
Một xu hướng đảo chiều
Khi đường đối kháng bị phá vỡ, vai
trò của nó bị đảo ngược và nó trở thành đường hỗ trợ. Tương tự, khi một đường hỗ
trợ bị phá vỡ, đường này sẽ thành đường đối kháng.
Thông
qua việc xác định các mức giá mà ở đó có sự thay đổi lớn về cung cầu giúp nhà đầu
tư xác định được mức giá mua và mức giá bán, qua đó thì giúp giảm thiểu rủi ro
trong đầu tư. Các chỉ số này có thể được tạo ra bởi thị trường một cách ngẫu
nhiên trong quá khứ, tuy nhiên chúng đều phan ánh quan điểm chủ của các thành
phẩn tham gia giao dịch trên thị trường.
Các đường hỗ trợ và
kháng cự có thể kể đến như:
2.4.
Các
mô hình biểu đồ
Vì
lịch sử luôn lặp lại nên giá chứng khoán sẽ lặp lại những mô hình đã từng xảy
ra trong quá khứ. Khi các mô hình biểu đồ xảy ra, giá chứng khoán sẽ tiếp diễn
hoặc đảo chiều tùy thuộc vào mô hình tiếp diễn hay mô hình đảo chiều.
III.
Đặc
điểm và ứng dụng một số chỉ báo cơ bản
3.1.
Chỉ báo SMA15 – SMA27 – SMA100:
nguyên tắc xác định xu hướng thị trường và xác định điểm mua
-
Khái
niệm - đường trung bình di động:
Đường
trung bình di động giảm đơn SMA là một chỉ số phản ánh xu hướng giá, chỉ số này
loại bỏ các biến động lớn của giá chứng khoán hàng ngày và tạo ra đường giá chứng
khoán mềm mại hơn. Cũng như các chỉ số kỹ thuật khác, SMA được xây dựng dựa
trên giá chứng khoán và do đó nó có độ trễ so với mức giá chứng khoán hiện tại.
-
Cách
tính:
Đường
SMA“n” được vẽ bằng cách nối các điểm trung bình cộng giá đóng cửa của n phiên
gần nhất.
Giá
trị n càng nhỏ thì SMA càng bám sát đường giá và độ trễ càng thấp, ngược lại n
càng cao thì độ trex của SMA càng cao.
-
Ứng
dụng
a. Sử
dụng kết hợp cả ba đường SMA ngắn hạn (SMA15), trung hạn (SMA27) và dài hạn
(SMA100) đề xác định xu hướng của thị trường và điểm đảo chiều.
Việc sử dụng những đường
SMA là cách dễ nhất để xác định hướng biến động giá của chứng khoán. Nếu SMA đang
đi lên có nghĩa là chứng khoán đó có chiều hướng đi lê. Ngược lại, nếu SMA đi
xuống dưới, giá chứng khoán chiều hướng giảm.
SMA15 dùng để dự đoán
xu hướng ngắn hạn, SMA27 dùng để dự đoán xu hướng trung hạn và SMA100 dùng để dụ
đoán xu hướng dài hạn.
Khi
đường SMA ngắn hạn cắt đường SMA dài hạn từ dưới lên thì xu hướng giá sẽ đổi
chiều là đi lên. Ngược lại, khi đường SMA ngắn hạn cắt SMA dài hạn từ trên xuống
thì xu hướng giá đi xuống.
Ví dụ:
Khi đường giá (SMA1) cắt đường SMA15 thì xu hướng trong ngắn hạn giá chứng
khoán sẽ tăng.
Hình
1: Biểu đồ giá kết hợp SMA15,27,100 chỉ số Vnindex từ tháng 2/2014
b. Sử
dụng đường SMA để lựa chọn điểm mua trong uptrend
Ngoài việc dùng để các
định xu hướng của giá chứng khoán thì đường SMA còn được sử dụng như một ngưỡng
kháng cự di động.
Trong xu thế đi lên của
giá chứng khoán, nên lựa chọn các điểm đường giá cắt SMA15 từ dưới lên hoặc chạm
đường SMA15 bật lên hoặc tích lũy về gần SMA rồi bật lên thì sẽ tránh được các
đợt điều chỉnh giá và khả năng thu lời ngắn hạn cao hơn.
Ngược lại, nếu mua chứng
khoán khi giá cách quá xa so với SMA15 thì sẽ rất dễ gặp phải đợt điều chỉnh
giá và lợi nhuận không cao.
3.2.
RSI - Chỉ số sức mạnh tương đối:
công cụ xác định dòng tiền và biến động giá
-
Khái
niệm:
Chỉ
số RSI dùng để đo sức mạnh hoặc độ yếu tương đối của một loại chứng khoán khi
nó tự so sánh với chính nó trong một khoảng thời gian nhất định (thường dùng là
14 ngày). RSI là một công cụ đo dao động (oscillator) có biên trên và biên dưới
dao động 0-100 (Phần dưới cùng của biểu đồ trên: RSI – 14 ngày). Đường trung
bình nằm giữa màu xám 50.
-
Cách
tính:
RSI phản ánh mối quan hệ giữa sức
tăng giá và sức giảm giá của một Cổ phiếu trong một thời kỳ xác định bằng cách
lấy tỷ số giá trung bình của các phiên tăng và giá trung bình các phiên giảm
trong thời kỳ đó. Gọi n là số các phiên trong thời kỳ xác định cần tính RSI.
Gọi
giá trung bình các phiên tăng trong n phiên là AIn
AIn
= Tổng giá các phiên tăng / n
Gọi
giá trung bình các phiên giảm trong n phiên là ADoanh nghiệp = Tổng giá các phiên
giảm / n
Chỉ
số sức mạnh tương đối được tính bằng công thức
RSI
= 100 – 100 / (1 + RS) (1)
Trong
đó RS = AIn / A Doanh nghiệp là tỷ số giá trung bình các phiên tăng và giá
trung bình các phiên giảm
-
Ứng
dụng:
RSI xác định tương quan sức mạnh giữa phe mua
và phe bán bằng cách phản ánh tỷ số tăng giá và tỷ số tăng giá vào giá trị của
RSI. Giá trị này nằm trong khoảng 0 đến 100. Giá trị 50 của RSI gọi là giá tị
trung bình tại đây sức mua và bán có tương quan ngang bằng nhau. RSI lớn hơn 50
và càng lớn thì phản ánh sức mua càng lớn hơn sức bán, giá cả đang tăng. RSI nhỏ
hơn 50 và càng nhỏ thì phản hánh sức bán càng lớn hơn sức mua, giá cả đang xuống.
Có 3 đường RSI cần chú ý:
Đường RSI 50
ở giữa, là một dấu hiệu nhận biết chứng khoán sắp tăng giá hay giảm giá. Nếu đường
RSI tăng vượt qua đường này, đó là dấu hiệu giá của loại chứng khoán đó có kỳ vọng
tăng giá (Bullish). Ngược lại, nếu đường RSI giảm xuống dưới đường này, đó là dấu
hiệu giá của loại chứng khoán đó có kỳ vọng giảm giá (Bearish).
Đường RSI 70
phía trên được coi là ngưỡng lỗ mua (overbought) nghĩa là đã mua lỗ quá nhiều
so với mức cân bằng của thị trường. Khi đó, nhà đầu tư sẽ bán bớt ra để trở về
mức cân bằng làm cho giá giảm xuống). Thường khi đường RSI rớt xuống dưới ngưỡng
70, đó là dấu hiệu giá chứng khoán đó sắp giảm.
Đường RSI 30
ở dưới được coi là ngưỡng lỗ bán (oversold) nghĩa là lượng bán ra quá nhiều làm
giá giảm xuống thấp hơn so với giá cân bằng. Nhà đầu tư sẽ mua thêm để đẩy giá
lên). Thường khi đường RSI từ dưới lên và vượt ngưỡng 30, đó là dấu hiệu giá chứng
khoán đó sắp tăng.

Hình
2: Biểu đồ giá kết hợp đường RSI của Vnindex từ tháng 2/2014
3.3.
Fibonaci – công cụ xác định các ngưỡng
hỗ trợ/kháng cự hiệu quả và dự đoán giá tương lai
-
Khái
niệm:
Sau
khi giá chứng khoán duy trì chuyển động bền vững theo một hướng nhất định (tăng
hoặc giảm), giá cổ phiếu có thể truy hồi một khoản trước khi bắt đầu chuyển tiếp.
Chỉ số Fibonaci đucợ dùng để dự đôán các mức giá hỗ trợ (Support level) và các
mức giá tương lai (target prices) dựa trên khoảng cách mà giá đã dịch chuyển và
các bước bóng của giá.
Fibonacci là công cụ sử dụng những tỷ lệ đặc biệt xảy
ra trong tự nhiên để giúp chúng ta dự báo hay đoán trước các điểm hỗ trợ hay
kháng cự. Những con số của Fibonacci dùng: 1,1,2,3,5,8,13,21,34,55,89… Dãy số
này được tạo ra theo nguyên tắc sau: 1+1 = 2, 2+3 = 5. Tỷ lệ được sử dụng chính
là 0.618 (tỷ lệ vàng) được tìm thấy bởi quy luật: lấy 1 số rồi chia cho số tiếp
theo trong dãy số Fibonacci (55/89 = 0.618). Tỷ lệ Fibonacci này có tính hợp lý
trong tự nhiên, tỷ lệ trên cơ thể con người và cả trong thị trường tài chính.
-
Ứng
dụng: Fibonaci Retracement
Fibonacci Retracements
là công cụ có nhiều hiệu quả nhất. Nó đưa ra những vùng giá có khả năng điều chỉnh
từ thấp đến cao và được vạch ra theo những tỷ lệ khác nhau dựa trên tỷ lệ
Fibonacci (từ thấp đến cao hay từ cao xuống thấp): 23.6%, 38.2%, 50%, 61.8%
Xác
định mức độ hỗ trợ/kháng cự CÁC MỨC TĂNG % sau khi đã đạt mức ĐÁY và xác định
các mức giá mục tiêu
Sau khi xác định được mức
ĐỈNH và ĐÁY trong 1 khoảng thời gian, DÃY FIBONACCI sẽ xuất hiện tương ứng với
các vị trí hỗ trợ, kháng cự 0%, 23.6%, 38.2, 50%, 61.8%, 100%...

Hình 4: Biểu đồ giá kết
hợp Fibonaci (610-509) của Vnindex năm 2014
3.4.
Mẫu
hình “Bùng nổ trên một nền tảng” – mô hình phổ biến nhất
Mỗi
chu kì của thị trường, giá chứng khoán đều trải qua 3 giai đoạn chính là: giai
đoạn tăng trưởng (Uptrend), giai đoạn suy thoái (down trend) và cuối cùng là
giai đoạn tích lũy đi ngang.
Mẫu
hình “Bùng nổ trên một nền tảng” hình thành trong giai đoạn thị trường tích
lũy. Sau một thời gian giá cổ phiếu tích lũy đi ngang với khối lượng giao dịch ổn
định thì sẽ xuất hiện một phiên bùng nổ (break out) với giá tăng mạnh vượt ra
khỏi nền tảng đó, đi kèm là khối lượng giao dịch tăng đột biến (gấp 2 lần trung
bình các phiên giao dịch trước đó). Phiên bùng nổ này sẽ đi kèm với các tín hiệu
tăng giá từ các chỉ báo khác như SMA và RSI.
Sau
phiên bùng nổ giá chứng khoán thường tăng mạnh. Tuy nhiên để mô hình này thành
công cần phải xem xét các yếu tố khác như: xu hướng thị trường chung chưa suy
thoái, dòng tiền vào các mã cùng ngành đang mạnh (các mã trong ngành cũng tăng
trưởng tốt).
Thời gian tích lũy càng
dài thì giá tăng càng mạnh và đợt điều chỉnh càng mạnh.
-
Ứng
dụng: sử dụng phiên bùng nổ để làm điểm mua cổ phiếu.
Khi
cổ phiếu xuất hiện phiên bùng nổ suy một thời gian tích lũy thì khả năng tăng mạnh
giá và hút dòn tiền của cổ phiếu đó rất cao, do đó lựa chọn điểm mua ở các
phiên bùng nổ là rất hiệu quả.
Tuy nhiên cần chú ý các
dấu hiệu bùng nổ không thành công:
-
Thời
gian tích lũy quá ngắn (< 1 tuần)
-
Thị
trường chung có dấu hiệu đạt đỉnh và chạy nước rút.
-
Phiên
T+3, giá chứng khoán giảm thấp hơn so với điểm mua.
-
Các
cổ phiếu khác cùng ngành không hút được dòng tiền.

Hình
4: Biểu đồ giá và khối lượng của PVS quý 4 năm 2013